Từ cây thuốc dân gian đến nguồn nguyên liệu sinh học: Tiềm năng của Mần ri trắng
—
Cây Mần ri trắng (Cleome gynandra L.) là loài cây thân thảo phân bố phổ biến ở nhiều vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Việt Nam, cây còn được biết đến với các tên gọi như Màn màn trắng, Mần rì trắng hoặc Màn màn. Cây thường mọc ở những nơi nhiều ánh sáng, đất ẩm như ven đường, ruộng vườn, nương rẫy, bãi đất hoang hoặc ven sông suối.
Trong thực tế, tên gọi mần ri hay màn màn không chỉ dùng cho Mần ri trắng mà còn được dân gian dùng để chỉ một số loài có đặc điểm gần tương đồng, phổ biến như mần ri trắng, mần ri vàng và mần ri tím. Các loài này khác nhau chủ yếu ở màu hoa, hình thái thân lá và sinh cảnh phân bố. Mần ri trắng có hoa màu trắng, thường mọc ở vùng đất ẩm, đồng bằng hoặc vùng núi thấp; mần ri vàng có hoa vàng, thân và cành phủ lông mềm, phân bố từ trung du đến đồng bằng; trong khi mần ri tím thường gặp ở đất hoang, ven nương rẫy, nhất là tại miền Trung và miền Nam Việt Nam. Sự khác biệt này cho thấy khi nghiên cứu và ứng dụng, nhóm cây mần ri cần được phân biệt rõ theo từng loài để tránh nhầm lẫn về nguồn nguyên liệu.

Hình ảnh Mần ri trắng, Mần ri vàng và Mần ri tím
Trong y học dân gian, các loài mần ri từ lâu đã được sử dụng như những cây thuốc quen thuộc, gắn với nhiều kinh nghiệm chữa bệnh truyền thống. Tùy từng loài, bộ phận dùng và cách sử dụng có thể khác nhau. Mần ri trắng thường được nhắc đến trong các bài thuốc dân gian liên quan đến sốt, phong thấp, đau đầu, mụn nhọt hoặc dùng ngoài da; mần ri vàng được ghi nhận trong một số trường hợp như đau tai, chảy máu chân răng, nhức đầu; trong khi mần ri tím lại xuất hiện trong các bài thuốc về cảm cúm, ho hen, nhức đầu, rắn cắn hoặc viêm gan. Những kinh nghiệm này cho thấy nhóm cây mần ri có giá trị nhất định trong tri thức bản địa, tuy nhiên vẫn cần được kiểm chứng bằng các nghiên cứu khoa học hiện đại để làm rõ hiệu quả, thành phần hoạt chất và mức độ an toàn khi sử dụng.
Trong nhóm đó, Mần ri trắng là loài đáng chú ý hơn cả vì vừa có nền tảng sử dụng trong dân gian, vừa được nhiều nghiên cứu quan tâm dưới góc độ thực vật dinh dưỡng và dược liệu. Theo Mashamaite và cộng sự (2022)*, Mần ri trắng là loài thực vật có khả năng chịu hạn, thích nghi với nhiều điều kiện khí hậu và đất đai, đồng thời có giá trị dinh dưỡng cao nhờ chứa vitamin, khoáng chất và protein.
Bên cạnh giá trị dinh dưỡng, Mần ri trắng còn được quan tâm nhờ sự hiện diện của các hợp chất sinh học như polyphenol, flavonoid và các chất chống oxy hóa tự nhiên. Theo Maina và cộng sự (2021)**, các bộ phận khác nhau của cây có sự tích lũy phenolic và flavonoid ở mức độ khác nhau, đồng thời thể hiện hoạt tính chống oxy hóa đáng chú ý. Đây là cơ sở quan trọng để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về thành phần hoạt chất, cơ chế tác động sinh học và khả năng ứng dụng của loài cây này.
Hiện nay, Viện PROVITECH đang bước đầu triển khai nghiên cứu liên quan đến cây Mần ri trắng nhằm đánh giá tiềm năng ứng dụng của nguồn nguyên liệu này theo hướng khoa học, an toàn và bền vững. Trong thời gian tới, Viện định hướng tiếp tục mở rộng nghiên cứu về thành phần hoạt chất, quy trình chiết xuất và khả năng ứng dụng của Mần ri trắng trong các lĩnh vực như chế phẩm sinh học, nguyên liệu chiết xuất tự nhiên và sản phẩm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe
*Mashamaite, C. V., Manyevere, A., & Chakauya, E. (2022). Cleome gynandra: A wonder climate-smart plant for nutritional security for millions in semi-arid areas. Frontiers in Plant Science, 13, Article 1003080. https://doi.org/10.3389/fpls.2022.1003080
**Maina, S., Ryu, D. H., Bakari, G., Misinzo, G., Nho, C. W., & Kim, H.-Y. (2021). Variation in phenolic compounds and antioxidant activity of various organs of African cabbage (Cleome gynandra L.) accessions at different growth stages. Antioxidants, 10(12), Article 1952. https://doi.org/10.3390/antiox10121952

Bài viết hay quá